Phương pháp chung nghiên cứu khoa học vận dụng trong lĩnh vực kiến trúc – xây dựngđã cập nhật

Cùng xaydungquangcao xem bài viết Phương pháp chung nghiên cứu khoa học vận dụng trong lĩnh vực kiến trúc – xây dựng!

Phương pháp nghiên cứu khoa học (PPNCKH) là phạm trù trung tâm của phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Phương pháp (PP) không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn, bởi vì chính PP góp phần quyết định thành công của mọi quá trình NCKH. Bản chất của PPNCKH chính là việc con người sử dụng một cách có ý thức các quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu như một phương tiện để khám phá chính đối tượng đó. Phương pháp nghiên cứu là con đường dẫn nhà khoa học đạt tới mục đích sáng tạo.

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của PP

  • PP luôn gắn với chủ thể nghiên cứu (yếu tố chủ quan) và đối tượng nghiên cứu (yếu tố khách quan);
  • PP có tính mục đích vì mọi hoạt động của con người đều có mục đích. Mục đích nghiên cứu chỉ đạo việc tìm tòi và lựa chọn PPNC;
  • PPNC gắn chặt với nội dung nghiên cứu. PP là hình thức vận động của nội dung. Nội dung nghiên cứu quy định PPNC. Trong mỗi đề tài khoa học có một PP cụ thể, trong mỗi ngành khoa học có một hệ PP đặc trưng;
  • PPNC có cấu trúc đặc biệt, đó là một hệ thống các thao tác được sắp xếp theo một chương trình tối ưu. Sự thành công hay không của một hoạt động nghiên cứu chính là phát hiện được hay không lôgic tối ưu của các thao tác hoạt động và biết sử dụng nó một cách có ý thức;
  • PPNCKH luôn cần có các công cụ hỗ trợ, cần có các phương tiện kỹ thuật hiện đại với độ chính xác cao. Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu mà ta chọn PPNC; theo yêu cầu của PPNC mà ta chọn các phương tiện phù hợp.

Phân loại PPNCKH

PPNCKH là một hệ thống phong phú và phức tạp. Để tiện áp dụng trong thực tế, người ta có một số cách phân loại PPNCKH như sau:

  • Dựa vào lĩnh vực áp dụng, người ta chia PP thành: Những PP chung nhất dùng cho tất cả các lĩnh vực khoa học, những PP chung dùng cho một số ngành và những PP đặc thù chỉ dùng cho một lĩnh vực cụ thể;
  • Dựa vào việc vận dụng công nghệ thông tin, người ta chia PP thành: Nhóm PP thu thập thông tin, nhóm PP xử lý thông tin và nhóm PP trình bày thông tin;
  • Dựa vào tính chất và trình độ nghiên cứu, người ta chia PP thành: Nhóm PP mô tả, nhóm PP giải thích và nhóm PP sáng tạo (phát triển);
  • Dựa vào trình độ nhận thức khoa học và cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu, người ta chia PP thành: Nhóm PPNC thực tiễn và nhóm PPNC lý thuyết;
  • Nhóm PP sử dụng toán học.

Như vậy, có nhiều cách phân loại PPNCKH, nhưng cách phân loại chung được áp dụng phổ biến là theo ba nhóm: Nhóm PPNC thực tiễn, nhóm PPNC lý thuyết và nhóm PP sử dụng toán học. Trong thực tế, tùy theo mục đích và đặc điểm chuyên ngành NC, người ta có thể sử dụng phối hợp nhiều PP để hỗ trợ và kiểm tra lẫn nhau nhằm khẳng định các kết quả nghiên cứu. Mỗi lĩnh vực khoa học có một số PP đặc trưng; trong một đề tài KH người ta có thể sử dụng một hệ thống nhiều PP phối hợp, được gọi là phương pháp hệ (Methodica). Sau đây, chúng ta nghiên cứu hệ thống các PP chung nhất theo trình độ nhận thức khoa học.

I. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn (PPNCTT)

PPNCTT là nhóm các PP trực tiếp tác động vào các đối tượng có trong thực tiễn để làm bộc lộ bản chất và quy luật vận động của các đối tượng đó.

1. PP quan sát khoa học (PPQSKH)

QSKH là PP nhận biết đối tượng một cách có hệ thống để thu thập thông tin. Đây là một hình thức quan trọng để nhận thức kinh nghiệm, thông tin. Nhờ quan sát mà ta có thông tin về đối tượng, trên cơ sở đó tiến hành các bước tìm tòi và khám phá tiếp theo.
QSKH là một hoạt động được tổ chức đặc biệt, có mục đích, có kế hoạch, có phương tiện để nhận diện các đối tượng được lựa chọn. Mục đích quan sát là tìm các dấu hiệu đặc trưng hay những quy luật vận động và phát triển của đối tượng.
QSKH được tiến hành trong thời gian dài hay ngắn, không gian rộng hay hẹp, đối tượng nhiều hay ít, tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Các tài liệu quan sát qua xử lý đặc biệt cho ta những kết luận đầy đủ, chính xác về đối tượng.
QSKH có ba chức năng:

  • Thu thập thông tin thực tiễn, đây là chức năng quan trọng nhất. Các tài liệu thu thập qua xử lý cho ta những thông tin có giá trị về đối tượng;
  • Kiểm chứng các giả thiết hay các lý thuyết đã có. Qua thực tiễn kiểm chứng mới khẳng định được độ tin cậy của lý thuyết;
  • Đối chiếu các kết quả nghiên cứu lý thuyết với thực tiễn để tìm ra sự sai lệch của chúng, mà tìm cách bổ khuyết, hoàn thiện lý thuyết.

Có hai loại QSKH: Trực tiếp và gián tiếp. QS trực tiếp là QS trực diện đối tượng đang diễn biến trong thực tế bằng mắt thường hoặc bằng các phương tiện kỹ thuật nghe nhìn để thu thập thông tin một cách trực tiếp. QS gián tiếp là QS diễn biến hiệu quả của các tác động tương tác giữa đối tượng cần QS với các đối tượng khác, mà bản thân đối tượng không thể QS trực tiếp được.
Các đối tượng nghiên cứu có thể là đơn lẻ, có thể là số đông. Các đối tượng đó có thể đang vận động trong môi trường tự nhiên hay môi trường nhân tạo. Người QS có thể là nhà khoa học hay các cộng tác viên. Bất kỳ một QSKH nào cũng đều do con người thực hiện, cho nên phải tính đến các đặc điểm của quá trình QS với các lưu ý sau:

  • Chủ thể QS là các nhà khoa học hay các cộng tác viên và đã là con người đều bị các quy luật tâm lý chi phối. Mỗi cá nhân đều có tính chủ quan, chủ quan về trình độ, kinh nghiệm, quan điểm, cảm xúc. QS bao giờ cũng thông qua lăng kính chủ quan, có “cái tôi” trong sản phẩm. Ví dụ: Ngay cả khi sử dụng máy quay phim một cách “vô tư”, người cầm máy vẫn quay theo cảm hứng và góc độ mà họ muốn. Cái chủ quan có thể là nguồn gốc của mọi sai lệch, thậm chí có thể “xuyên tạc” sự thật.
  • Phải chú ý tới các quy luật của cảm giác, tri giác, như: Quy luật lựa chọn, quy luật thích ứng và các ảo giác,…
  • Đối tượng QS là thế giới phức tạp. Sự chính xác của QS phụ thuộc một mặt vào trình độ của con người, mặt khác vào sự bộc lộ của chính đối tượng. Đối tượng nằm trong một hệ thống có mối quan hệ phức tạp với đối tượng phức tạp khác, nó lại luôn vận động, biến đổi và phát triển. Cho nên việc xác định đúng các chỉ số trọng tâm về đối tượng cần QS là điều rất cần thiết.

Tóm lại, QS là một PPNCKH quan trọng nói chung và trong lĩnh vực kiến trúc – xây dựng nói riêng. Tuy nhiên PPQSKH chưa đạt tới trình độ nhận thức bản chất bên trong của đối tượng, cần phải sử dụng phối hợp QS với các PP khác để đạt tới kết quả bản chất và khách quan.

2. PP điều tra (PPĐT)

ĐT là PP khảo sát một nhóm đối tượng trên một diện rộng nhằm phát hiện các quy luật phân bố, trình độ phát triển, những đặc điểm về định tính và định lượng của các đối tượng cần nghiên cứu.

Các tài liệu điều tra được sẽ là những thông tin quan trọng về đối tượng cần cho các quá trình nghiên cứu và là căn cứ để đề xuất những giải pháp khoa học hay giải pháp thực tiễn.

Có hai loại ĐT: ĐT cơ bản (CB) và ĐT xã hội học (XHH)

  • ĐT CB khảo sát sự có mặt của các đối tượng trên một diện rộng, để nghiên cứu các quy luật phân bố cũng như các đặc điểm về mặt định tính và định lượng.
  • ĐT XHH là điều tra quan điểm, thái độ, cảm xúc, nhu cầu, của quần chúng về một sự kiện (KT-XH), một hiện tượng (VH, MT),…
  • ĐT là một PPNCKH quan trọng, một hoạt động có mục đích, có kế hoạch, được tiến hành một cách thận trọng.

ĐT CB được sử dụng cả trong KH tự nhiên và KH xã hội. Các bước ĐT thường được tiến hành như sau:

  • Lập kế hoach ĐT, bao gồm: Mục đích, đối tượng, địa bàn, nhân lực, kinh phí,…;
  • Xây dựng các mẫu phiếu ĐT với các thông số, chỉ tiêu cần làm sáng tỏ;
  • Chọn mẫu ĐT đại diện cho số đông, chú ý tới những đặc trưng của đối tượng;
  • Xử lý tài liệu ĐT: Các tài liệu thu thập được qua ĐT có thể được phân loại bằng phương pháp thủ công hay xử lý bằng công thức toán học thống kê và máy tính, cho ra những kết quả khách quan;
  • Khi cần kiểm tra kết quả nghiên cứu, có thể ĐT lại, thay đổi địa điểm, thời gian, thay đối tượng điều tra, hoặc sử dụng các PPNC hỗ trợ khác. ĐTXHH thực chất là trưng cầu ý kiến quần chúng, được tiến hành bằng cách phỏng vấn trực tiếp, thảo luận hay bằng hệ thống bảng câu hỏi. Trưng cầu ý kiến là PP thu thập thông tin, dựa trên tác động về mặt tâm lý trực tiếp hay gián tiếp giữa nhà khoa học và người được hỏi ý kiến để tìm ra các quan điểm phổ biến nhất trong đám đông quần chúng. Phỏng vấn là PP nói chuyện trực tiếp giữa nhà khoa học với các đối tượng cần biết ý kiến. Thảo luận là PP tổ chức thu thập thông tin bằng cách đưa ra những tình huống, những vấn đề nhằm thu hút các đối tác nghiên cứu vào một cuộc tranh luận bổ ích trong các cuộc hội nghị, hội thảo, để mọi người tự bộc lộ quan điểm, tư tưởng.

Một PPĐTXHH phổ biến là lập hệ thống câu hỏi bằng văn bản, thường gọi là “Bảng câu hỏi” hay “Anket” (Questionaire). Anket là hệ thống câu hỏi với các phương án trả lời, người được hỏi chọn câu trả lời theo nhận thức và quan điểm của mình. Anket có hai loại: Anket đóng và Anket mở. Anket đóng là hệ thống các câu hỏi mà người trả lời chỉ cần chọn một trong các phương án đã có sẵn. Anket mở là hệ thống các câu hỏi mà ngoài các phương án có sẵn, người trả lời có thể bổ xung ý kiến riêng của mình.

Kết quả ĐTXH phải qua xử lý bằng các PP thống kê toán học hay bằng máy vi tính. Các kết quả đã qua xử lý mới được coi là thông tin khoa học. Một PPĐT khoa học khác hay được sử dụng trong nghiên cứu tâm lý học và giáo dục học là PP trắc nghiệm (Test), một PP để nghiên cứu, đo đạc, đánh giá trí tuệ và nhân cách con người.

Tóm lại, ĐT là PPNC thực tiễn quan trọng và phổ biến trong lĩnh vực quy hoạch – kiến trúc. Tuy nhiên, ĐT cũng không phải là PP vạn năng vì chúng có nhiều ưu điểm nhưng cũng có nhược điểm. Trong nghiên cứu KHXH, kết quả ĐT nhiều khi cho ta thông tin bản chất nhưng nhiều khi chỉ cho ta thông tin hỗ trợ, bổ sung hay kiểm tra kết quả của các PPNC khác.

3. PP thực nghiệm khoa học (PPTNKH- Experiment)

Thực nghiệm KH là PPNC thực tiễn quan trọng, trong đó các nhà khoa học chủ động tác động vào đối tượng và quá trình diễn biến của sự kiện (SK) hoặc hiện tượng (HT) mà đối tượng tham gia, để hướng dẫn sự phát triển của chúng theo mục tiêu dự kiến. Thực nghiệm thành công sẽ cho ta các kết quả khách quan, và như vậy mục đích khám phá khoa học được thực hiện một cách hoàn toàn chủ động. Kinh nghiệm cho thấy thực nghiệm có ý nghĩa như là một cuộc cách mạng trong NCKH, làm đảo lộn tư duy khoa học kiểu cũ và nó được sử dụng triệt để trong nhiều lĩnh vực khoa học, đặc biệt là với các ngành khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật. Thực nghiệm đã giúp đẩy nhanh quá trình NCKH và khả năng vận dụng nhanh chóng các kết quả NCKH vào thực tiễn sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng – kiến trúc.

PPTN giúp trình độ kỹ thuật thực hành NC đạt tới mức độ tinh vi, giúp phát triển cả khả năng tư duy lý thuyết. Thực nghiệm đã tạo ra một hướng nghiên cứu mới, hoàn toàn chủ động trong sáng tạo khoa học. Ngày nay, PPTN đã được sử dụng cả trong lĩnh vực NCKH xã hội và đem lại những kết quả quan trọng.

Trong NCKH tự nhiên và KH kỹ thuật, người ta còn sử dụng PP thí nghiệm, được tiến hành trong các phòng thí nghiệm (Labo – Laboratory) với những biện pháp kỹ thuật nhằm phát hiện đặc điểm và các quy luật phát triển của đối tượng nghiên cứu. Thí nghiệm thực hiện trên cơ sở thay đổi dần các dữ kiện hay các chỉ số định tính và định lượng của những thành phần tham gia SK/HT và lặp lại nhiều lần nhằm xác định tính ổn định của đối tượng nghiên cứu. Thí nghiệm có thể là một bước, hay một bộ phận của quá trình thực nghiệm KH. Từ kết quả của những thí nghiệm có thể chuyển dần thành lý thuyết thực nghiệm. Thực nghiệm và thí nghiệm về bản chất cũng là để tìm tòi hay chứng minh một ý tưởng, một giả thuyết KH nào đó. Đây là PPNC rất phù hợp và phổ biến trong lĩnh vực Xây dựng – Kiến trúc (XD-KT).

4. PP phân tích và tổng kết kinh nghiệm (PPPT&TKKN)

PPPT và TKKN là PPNC xem xét lại thành quả của hoạt động thực tiễn trong quá khứ để rút ra những kết luận bổ ích cho khoa học và cho thực tiễn. PPTKKN thường hướng vào NC diễn biến, nguyên nhân của các SK/HT và NC các giải pháp thực tiễn đã áp dụng trong sản xuất hay trong hoạt động xã hội để tìm ra các giải pháp hoàn hảo nhất. PPTKKN cũng còn nhằm phát hiện logic các bước đi để giải một bài toán sáng tạo trên cơ sở phân tích một loạt các thông tin về một giải pháp, ví dụ: Giải pháp kỹ thuật,… Đây chính là con đường sáng tạo theo phương pháp thuật toán (Algorithm).

PPTKKN thường được tiến hành như sau:

  • Phát hiện các SK/HT điển hình: Các SK/HT này có ảnh hưởng tới cuộc sống và hoạt động thực tiễn. Điển hình có thể là những SK/HT thành công hay thất bại. Những điển hình này thường tự bộc lộ như những SK/HT quan trọng mà mọi người đều quan tâm;
  • Lập lại mô hình SK/HT, khôi phục lại SK/HT đã xảy ra, cố gắng đạt tới nguyên bản;
  • Phân tích từng mặt của SK/HT, những nguyên nhân, hoàn cảnh xuất hiện, quá trình diễn biến của SK/HT, những thành công hay thất bại của các giải pháp theo tiến trình lịch sử.
  • Dựa trên các lý thuyết khoa học đã được chứng minh để giải thích SK/HT, tìm ra những kết luận khách quan về bản chất và quy luật phát triển của SK/HT, từ đó rút ra những bài học cần thiết.

5. PP chuyên gia (PPCG)

PPCG sử dụng trí tuệ của đội ngũ chuyên gia của một chuyên ngành để xem xét, nhận định bản chất của SK/HT khoa học hay thực tiễn phức tạp, để tìm ra giải pháp tối ưu cho các SK/HT đó, hay phân tích đánh giá một sản phẩm khoa học… Ý kiến của từng chuyên gia bổ sung cho nhau, kiểm tra lẫn nhau và các ý kiến giống nhau của đa số CG về một vấn đề hay giải pháp có thể được coi là kết quả NC. PPCG rất kinh tế và phổ biến trong lĩnh vực quy hoạch – kiến trúc, giúp tiết kiệm thời gian, sức lực và tài chính để triển khai NC. Tuy nhiên, PP này chủ yếu dựa trên cơ sở trực cảm và kinh nghiệm của CG, vì vậy, chỉ nên sử dụng khi các PP khác không có điều kiện thực hiện hoặc không thể thực hiện được.

Khi sử dụng PPCG cần chú ý:

  • Chọn đúng CG có năng lực chuyên môn về lĩnh vực nghiên cứu, nắm vững PPL NCKH, có phẩm chất trung thực, khách quan, khoa học và có kinh nghiệm trong nhận xét và đánh giá một công trình KH;
  • Nếu sử dụng CG để nhận xét một SK/HT khoa học hay một giải pháp thực tiễn thì có thể thông qua các hình thức: Thảo luận, tranh luận trong các hội nghị, hội thảo,… Tất cả các ý kiến, tư liệu cần được xử lý nhất quán theo một chuẩn, một hệ thống tiêu chí, để tìm ra các ý kiến giống nhau, hoặc gần nhau của đa số CG. Những ý kiến đó sẽ là những kết luận chung về SK/HT cần xem xét;
  • Nếu sử dụng PPCG để đánh giá một công trình khoa học thì phải xây dựng một hệ thống các tiêu chí cụ thể, rõ ràng và có thể dùng một thang điểm chuẩn để đánh giá. Phải chỉ dẫn cho CG đánh giá theo thang điểm chuẩn đó;
  • Để đảm bảo tính khách quan trong nhận xét và đánh giá một công trình KH, cần hạn chế những ảnh hưởng qua lại giữa các CG. CG có thể nhận xét, đánh giá bằng văn bản, không công khai. Nếu cần đánh giá công khai, thì người có uy tín nhất không nên là người đầu tiên phát biểu ý kiến.

II. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết (PPNCLT)

PPNCLT là nhóm các PP thu thập thông tin KH trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu, lý thuyết đã có và bằng các thao tác tư duy logic để rút ra các kết luận KH cần thiết.

1. PP phân tích và tổng hợp lý thuyết (PPPT&THLT)

Phân tích LT nghiên cứu các văn bản, các tài liệu lý luận khác nhau về một chủ đề, bằng cách phân tích chúng thành các bộ phận, từng mặt theo lịch sử thời gian, để hiểu chúng một cách đầy đủ và toàn diện, nhằm phát hiện ra những xu hướng, những trường phái NC của từng tác giả và từ đó chọn lọc những thông tin quan trọng, phù hợp, phục vụ cho đề tài NC của mình. Tổng hợp LT là PP liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin từ các lý thuyết đã thu thập được, để tạo ra một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc phù hợp với chủ đề NC của mình. Quá trình tổng hợp LT cho ta một tài liệu toàn diện và khái quát hơn các tài liệu đã có.

Phân tích và tổng hợp là hai PP có chiều hướng đối lập nhau, song chúng lại thống nhất và quan hệ biện chứng với nhau. Phân tích chuẩn bị cho tổng hợp và tổng hợp lại giúp cho phân tích càng sâu sắc hơn.

NC lý thuyết thường bắt đầu từ phân tích các tài liệu để tìm ra cấu trúc các lý thuyết, các trường phái, các xu hướng phát triển của lý thuyết. Từ phân tích người ta lại tổng hợp chúng lại để xây dựng thành một hệ thống khái niệm, phạm trù, nguyên lý, tiến tới tạo thành các lý thuyết KH mới. Đó là những PP phổ biến và phù hợp với lĩnh vực quy hoạch – kiến trúc.

2. PP phân loại, hệ thống hóa lý thuyết (PPPL,HTHLT)

Phân loại (PL) là PP sắp xếp các tài liệu KH thành một hệ thống logic, chặt chẽ theo từng mặt, từng nhóm kiến thức, từng vấn đề KH có cùng bản chất, cùng một hướng phát triển. Phân loại làm cho KH từ chỗ có kết cấu nội dung phức tạp thành cái dễ nhận biết, dễ sử dụng theo mục đích NC của các đề tài. Phân loại còn giúp phát hiện các quy luật phát triển của khách thể, cũng như sự phát triển của tri thức KH, để từ đó mà dự đoán được các xu hướng phát triển của KH và thực tiễn.

Hệ thống hóa (HTH) là PP sắp xếp các tri thức KH thành hệ thống trên cơ sở một mô hình lý thuyết làm cho sự hiểu biết của ta về đối tượng NC được đầy đủ và sâu sắc. HTH là PP tuân theo quan điểm cấu trúc hệ thống trong NCKH. Những thông tin đa dạng thu thập được từ các nguồn, các tài liệu khác nhau nhờ PPHTH mà ta có được một chỉnh thể với một cấu trúc chặt chẽ, để từ đó mà ta có thể xây dựng một lý thuyết mới hoàn chỉnh.

PL và HTH là hai PP luôn đi liền với nhau. Trong PL đã có yếu tố HTH. HTH phải dựa trên cơ sở của PL và HTH làm cho PL được đầy đủ và chính xác hơn. PL và HTH là những bước tiến để tạo ra những tri thức KH mới, sâu sắc và toàn diện. Đó là những PP rất phổ biến và phù hợp với lĩnh vực quy hoạch – kiến trúc.

3. PP mô hình hóa (PPMHH)

MHH là PPNC các hiện tượng KH thông qua việc xây dựng các mô hình giả định về đối tượng NC và dựa trên mô hình đó để NC trở lại đối tượng. MH là hệ thống các yếu tố vật chất hoặc ý tưởng. MH được xây dựng gần giống với đối tượng NC, trên cơ sở tái hiện lại những mối quan hệ chức năng, mối quan hệ nhân quả của các yếu tố tạo thành đối tượng.

Đặc tính quan trọng của MH là sự tương ứng của nó với nguyên bản. MH thay thế đối tượng và bản thân nó lại trở thành đối tượng để NC. MH là sự tái hiện đối tượng NC dưới dạng trực quan. Tri thức thu được từ NC các MH là cơ sở để chuyển sang NC nguyên bản sinh động, phong phú và phức tạp hơn. MH lý thuyết có nhiệm vụ xây dựng cấu trúc cái chưa có trong hiện thực, tức là MHH cái chưa biết để NC chúng. Như vậy MH vẫn là cái giả định, vì thế mà nó còn được gọi là MH giả thuyết. MHH được coi là một hình thức thử nghiệm tư duy để tìm kiếm bản chất đối tượng cần NC.

Tóm lại, MHH là phương thức chuyển cái trừu tượng thành cái cụ thể, rồi dùng cái cụ thể để NC cái trừu tượng, đó là một PP nhận thức phổ biến trong NCKH, đặc biệt trong lĩnh vực quy hoạch – kiến trúc. (QH – KT)

4. PP giả thuyết (PPGT)

Giả thuyết (GT) là PPNC đối tượng bằng cách dự đoán bản chất của đối tượng và tìm cách chứng minh các dự đoán đó. Như vậy, PPGT có hai chức năng: Chức năng dự đoán và chức năng chỉ đường, trên cơ sở dự đoán mà tìm bản chất của SK/HT. Với hai chức năng đó, GT thực chất là một PP nhận thức. Trong NCKH, khi phát hiện các hiện tượng lạ mà với kiến thức đã có, không thể giải thích được, người ta thường tiến hành so sánh hiện tượng chưa biết với các hiện tượng đã biết, từ tri thức cũ với trí tưởng tượng sáng tạo mà hình dung ra cái cần tìm. Đó chính là thao tác xây dựng GT. Trong GT, dự đoán được lập luận theo lối giả định, suy diễn, chân lý có tính xác xuất, cho nên cần phải chứng minh. Chứng minh GT có thể được thực hiện theo 2 cách: Chứng minh trực tiếp và chứng minh gián tiếp. Chứng minh trực tiếp là phép chứng minh dựa vào các luận cứ chân thực và theo các quy tắc suy luận để rút ra luận đề. Chứng minh gián tiếp là phép chứng minh khẳng định rằng phản luận đề là không chân xác và từ đó rút ra luận đề chân thực..
Với đặc điểm là PP biện luận, GT được sử dụng như là một thử nghiệm của tư duy, thử nghiệm thiết kế với các lý thuyết. Suy diễn để rút ra các kết luận chân thực từ GT là thao tác logich quan trọng của quá trình NCKH.

5. PP lịch sử (PPLS)

PPLS đi tìm nguồn gốc phát sinh, quá trình biến hóa và phát triển của đối tượng để phát hiện bản chất và quy luật vận động của đối tượng. Mọi sự vật và hiện tượng trong tự nhiên và xã hội đều có lịch sử của nó, tức là có nguồn gốc phát sinh, có vận động, phát triển và tiêu vong. Quá trình phát triển lịch sử biểu hiện toàn bộ tính chân thật của nó, với mọi sự thay đổi, những bước quanh co, những cái ngẫu nhiên, những cái tất yếu, phức tạp, muôn hình, muôn vẻ,…trong các hoàn cảnh khác nhau và theo một trật tự thời gian nhất định. Đi theo dấu vết của lịch sử ta sẽ có bức tranh trung thực về bản thân đối tượng NC.

PPLS yêu cầu làm rõ quá trình phát triển của đối tượng, phải nắm được sự vận động cụ thể trong tính phong phú của nó, phải bám sát đối tượng, theo dõi những bước quanh co, những ngẫu nhiên của lịch sử, phát hiện sợi dây lịch sử của toàn bộ sự phát triển. Từ lịch sử phát triển ta sẽ phát hiện ra quy luật phát triển của đối tượng, tức là tìm ra cái logich của lịch sử. Đó chính là mục đích của mọi hoạt động NCKH.

PPLS trong NCLT còn được sử dụng để phân tích các tài liệu lý thuyết đã có nhằm phát hiện các xu hướng, các trường phái NC, từ đó giúp ta xây dựng tổng quan về vấn đề NC, hay còn gọi là lịch sử vấn đề NC. Tổng quan là cơ sở để phát hiện những thành tựu lý thuyết đã có nhằm kế thừa, bổ xung và phát triển các lý thuyết đó. Xây dựng tổng quan là con đường giúp ta phát hiện ra những thiếu sót, những vấn đề không hoàn chỉnh trong các tài liệu đã có, để từ đó xác định sự cần thiết của đề tài NC. Đây là một PPNC được áp dụng rất phổ biến và quen thuộc trong lĩnh vực QH-KT.

III. Các PP toán học ứng dụng trong NCKH

Sự phát triển mạnh mẽ của KH hiện đại đã dẫn đến hai xu hướng phát triển trong NCKH:

– Một là: Việc sử dụng các thiết bị hiện đại để tiến hành các hoạt động NC. Các thiết bị kỹ thuật là công cụ hỗ trợ vô cùng hiệu quả trong quan sát, thực nghiệm,…và sử lý các thông tin, tư liệu thu thập được.

– Hai là: Việc sử dụng các lý thuyết toán học vào việc tìm ra các lý thuyết chuyên ngành. Xu hướng ”toán học hóa” mở ra con đường mới giúp NCKH đạt tới trình độ chính xác, sâu sắc, để từ đó khám phá bản chất và các quy luật vận động của đối tượng NC.
Kinh nghiệm cho thấy: Một KH chỉ thực sự phát triển khi nó sử dụng được toán học và thực tế ngày nay toán học đã thâm nhập một cách sâu sắc vào tất cả mọi lĩnh vực KH, làm cho KH phát triển nhanh chóng. KH hiện đại sử dụng toán học với hai mục đích:

  • Sử dụng toán học thống kê như một công cụ xử lý các thông tin đã thu thập được từ các PPNC khác nhau, như: Quan sát, điều tra hay thực nghiệm,…làm cho các kết quả NC trở nên chính xác, bảo đảm độ tin cậy;
  • Sử dụng các lý thuyết toán học và PP logic toán học để xây dựng các lý thuyết chuyên ngành. Nhiều công thức toán học đặc biệt được dùng để tính toán các thông số có liên quan tới đối tượng, từ đó tìm ra được các quy luật vận động của đối tượng.

Toán học là KH suy diễn. Toán học bảo đảm cho quá trình NC đi đúng hướng, nhất quán, cũng như trong trình bày kết quả NC thành một hệ thống, mạch lạc và đồng thời giúp tạo lập các ngôn ngữ KH chính xác. Trong NCKH tự nhiên, KH kỹ thuật, toán học là một công cụ đắc lực. KH tự nhiên và toán học gắn với nhau v như hình với bóng, thiếu vắng PP toán học không thể tiến hành NCKH tự nhiên, KH kỹ thuật. Trong NCKH xã hội, từ sự xác định, chọn mẫu NC, toán học đã tham gia một cách tích cực vào việc xử lý tài liệu, thông tin. Toán học đã làm tăng tính chính xác, khách quan của các kết quả NC và nhờ đó các kết luận của các công trình NC có tính thuyết phục cao hơn.

Kết luận

NCKH là một hoạt động đặc biệt, phức tạp. PPNCKH không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn, bởi vì chính PP góp phần quyết định thành công của mọi hoạt động và quá trình NCKH. Người làm NCKH thực thụ khác người hoạt động trong các lĩnh vực khác ở chỗ họ phải có những hiểu biết về phương pháp luận NCKH và phương pháp NCKH, hay nói cách khác, họ phải có năng lực làm việc KH, thể hiện trong tư duy và hành động. Chính vì vậy, những người muốn làm NCKH hay đang được đào tạo làm NCKH cần phải, trước tiên, học tập, nắm vững những kiến thức về phương pháp luận NCKH và đặc biệt là phải biết vận dụng các phương pháp và kỹ năng NCKH. Đó cũng là mục tiêu quan trọng nhất của công tác đào tạo sau đại học, đào tạo đội ngũ những người làm NCKH.

Tài liệu tham khảo:
– Ngô Thế Thi: Phương pháp luận NCKH-CN Kiến trúc,
Bài giảng cho Cao học Kiến trúc_ĐHXD.
– Vũ Cao Đàm: Phương pháp luận NCKH, Nhà XB Khoa học – Kỹ thuật, Hà nội – 1998.

GS.TSKH Ngô Thế Thi

(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 05-2018)


Nguồn: Phương pháp chung nghiên cứu khoa học vận dụng trong lĩnh vực kiến trúc – xây dựng-xaydungquangcao
Từ khoá: Phương pháp chung nghiên cứu khoa học vận dụng trong lĩnh vực kiến trúc – xây dựng,Phương pháp chung nghiên cứu khoa học vận dụng trong lĩnh vực kiến trúc – xây dựng,Phương pháp chung nghiên cứu khoa học vận dụng trong lĩnh vực kiến trúc – xây dựng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *